WORD GIÁO ÁN GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG LỚP 9 TỈNH NGHỆ AN NĂM 2025 ĐỦ NĂM được soạn dưới dạng file word gồm 9 chủ đề file trang. Các bạn xem và tải về ở dưới.
- Kể được tên các ngôn ngữ ở Nghệ An
- Giới thiệu được một ngôn ngữ dân tộc mà em biết hay nói được
- Chia sẻ được hiểu biết, cảm nhận của bản thân về vai trò của ngôn ngữ đối với đời sống văn hoá của các dân tộc
- Đề xuất được phương án bảo tồn, phát triển các ngôn ngữ ở Nghệ An.
Nghệ An ở vị trí trung tâm vùng Bắc Trung Bộ, là địa phương có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời. Tỉnh Nghệ An có diện tích rộng hơn 16.490 km2 với 21 đơn vị hành chính cấp huyện. Dân số Nghệ An năm 2020 là hơn 3,36 triệu người. Nghệ An có 6 dân tộc chính, trong đó, có 5 dân tộc thiểu số gồm Thái, Thổ, Mông, Khơ Mú và Ơ Đu sinh sống ở 11 huyện, thị miền núi với số lượng khoảng 491.000 người, chiếm gần 15% dân số toàn tỉnh. Mỗi dân tộc có một tiếng nói riêng tạo nên ngôn ngữ riêng biệt của vùng miền và làm nên bản sắc văn hóa của vùng đất Nghệ An.
1. Em hãy kể tên một số ngôn ngữ ở xứ Nghệ mà em biết?
2. Nhờ đâu em biết đến những ngôn ngữ đó?
I. Khái quát phương ngữ và phương ngữ ở Nghệ An
1. Phương ngữ là gì?
Giải thích một cách đơn giản, theo nghĩa từng từ thì “Phương” là địa phương, “Ngữ” là lời nói. Vậy “Phương ngữ” là lời nói của địa phương. Nhưng vẫn còn một cách hiểu khác, theo định nghĩa khái quát: phương ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở mỗi địa phương cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay với phương ngữ khác”
Nguyên nhân hình thành phương ngữ
Khác với tưởng tượng của nhiều người, ngôn ngữ là thứ luôn luôn chuyển động, nhưng không phải ở mọi nơi của ngôn ngữ đó đều có điều kiện thay đổi và tiến hóa như nhau. Chính vì thế, xuất hiện sự khác biệt ngôn ngữ giữa các vùng là điều tất yếu. Đó cũng chính là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của phương ngữ; bên cạnh đó còn có những nguyên nhân về mặt địa lí. Bởi lẽ, do sự tách biệt giữa các bộ lạc đã tạo ra sự khác biệt ngôn ngữ; ở giai đoạn bộ tộc, do có sự tiếp xúc thường xuyên giữa các thành viên, cho nên dù có xảy ra biến đổi trong ngôn ngữ thì nó cũng sẽ nhanh chóng được phổ biến cho cả bộ tộc nhưng với giai đoạn bộ lạc thì khác, do sự xa cách về địa lí ở các bộ lạc nên những thay đổi ngôn ngữ chỉ được phổ biến trong các vùng ở bộ lạc này mà khó để đến với các bộ lạc khác, kết quả là sự ra đời của những sự khác nhau trong mã, làm nảy sinh các phương ngữ khác nhau.
2. Phương ngữ Nghệ An
Xứ Nghệ An vốn được biết đến với vẻ đẹp non nước hữu tình và chất giọng địa phương độc đáo, riêng biệt.
Theo cách hiểu thứ nhất, phương ngữ là lời nói địa phương thì Nghệ An có một số phương ngữ thú vị như: bể - biển, chi - gì, chộ -thấy, cơn - cây, đọi - bát, mô - đâu, ngái - xa, nhởi - chơi, nom - nhìn, nỏ - không, rày - nay, răng - sao, rú - núi, rứa - thế ấy, trốc - đầu, trự - đồng tiền, ...Ngoài ra, cách xưng hô của người Nghệ An cũng vô cùng khác biệt như: tau - tôi, mi - mày, bọn nớ - bọn họ, bọn kia, bọn choa - bọn tao, chúng tôi, ả - chị, eng/enh - anh, hấn - hắn, bọ - bố (cũng có nơi gọi cha, thầy thay cho bọ), mệ - mẹ (tùy vùng).
Trên thực tế, tiếng Nghệ An thường không phát âm được thanh ngã và thường nhập thanh ngã với thanh nặng. Nhưng cũng vì điều đó, âm thanh xứ Nghệ mang một nét ấn tượng khó phai đối với tất cả người dân xứ ngoại có dịp lắng nghe giọng của dân xứ này.
Đây chính là điểm độc đáo của phương ngữ Nghệ An chính các từ cùng một nghĩa lại có cách nói có phần đặc biệt, khó có thể tưởng tượng được khiến cho người xứ khác thấy thích thú vì âm điệu hơn là mặt ngữ nghĩa. Và ngữ điệu của là một phần đáng tự hào khi chỉ cần họ cất giọng nói chuyện, ta nhận ra ngay một người con đến từ quê hương xứ Nghệ.
Theo cách hiểu phương ngữ là thuật ngữ ngôn ngữ học, Nghệ An là địa bàn sinh sống của rất nhiều cộng đồng các dân tộc anh em từ Kinh, Thái, Thổ đến Mường, Dao, H’mông, Khơ mú... vì vậy ở Nghệ An tồn tại nhiều ngôn ngữ của các dân tộc. Trong đó đặc trưng là các ngôn ngữ của dân tộc Kinh, dân tộc Thái, dân tộc Thổ, dân tộc H’mông, dân tộc Ơ Đu, dân tộc Khơ mú.
Câu hỏi:
1. Phương ngữ là gì? Chỉ ra các nguyên nhân hình thành phương ngữ?
2. Đặc điểm phương ngữ Nghệ An?
3. Em hãy kể tên một số dân tộc thiểu số trên địa bàn Nghệ An. Trong số những đồng bào dân tộc đó, dân tộc nào có tiếng nói và chữ viết riêng?
4.
II. Các phương ngữ ở Nghệ An
2.1 DÂN TỘC KINH
Tên gọi khác: Người Việt
Ngôn ngữ: Tiếng Việt: nằm trong nhóm ngôn ngữ Việt-Mường, ngữ hệ Nam Á.
Cư trú: Người Kinh là tộc người duy nhất trong 54 tộc người của quốc gia Việt Nam cư trú thành các cộng đồng ở tất cả các tỉnh, trên tất cả các dạng địa hình, địa bàn trong cả nước (đồng bằng, trung du, miền núi, cao nguyên, ven biển và hải đảo), song tập trung đông đúc ở đồng bằng.
Lịch sử: Người Kinh (cũng như người Mường, Thổ, Chứt) là tộc người bản địa, sở tại, sinh sống từ rất lâu đời trên dải đất Việt Nam, không phải có nguồn gốc từ lãnh thổ bên ngoài. Từ cái nôi ban đầu là vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, tập trung ở đồng bằng, người Kinh chuyển cư đến các vùng khác, trở thành tộc người đông đảo, có mặt trên mọi địa bàn, địa hình của Tổ quốc.
2.2 DÂN TỘC THÁI
Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.
Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái – Kađai).
Cư trú: Người Thái cư trú ở một số tỉnh chủ yếu sau đây tại Việt Nam: Hòa Bình, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Thanh Hóa, Nghệ An. Quá trình di cư từ đầu những năm 1990 đã mở rộng địa bàn cư trú của tộc người này ra một số vùng khác, trong đó có các tỉnh ở khu vực Tây Nguyên.
Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm. Người Thái ở Việt Nam được nhìn nhận là một cộng đồng tộc người với nhiều nhóm địa phương. Nguồn gốc cũng như sự có mặt của họ ở Việt Nam không hoàn toàn giống nhau. Theo các nhà dân tộc học, người Thái ở Việt Nam có hai nhóm chính: Thái Trắng và Thái Đen.
2.3. DÂN TỘC KHƠ MÚ
Tên gọi khác: Xá Cẩu, Khạ Klẩu, Mãng Cẩu, Tày Hạy, Mứn Xen, Pu Thềnh, Tềnh.
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á). Nhiều người biết đọc, viết chữ Thái.
Cư trú: Ở các tỉnh dọc biên giới Việt - Lào như Nghệ An, Thanh Hóa, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên.
Lịch sử: Về nguồn gốc tộc người Khơ Mú ở Việt Nam hiện vẫn còn tồn tại một số quan điểm khác nhau. Cho đến nay, phần lớn các nhà khoa học đều khẳng định người Khơ-mú là cư dân tại chỗ ở bán đảo Đông Dương, cư trú tập trung ở Bắc Lào với điểm quy tụ đông nhất là Luang Prabang và đã hình thành vương quốc có tên là Swa hay Lawa. Sau khi người Lào di cư xuống cùng với các cuộc viễn chinh và người từ Vân Nam (Trung Quốc) tràn xuống đã buộc người Khơ Mú phải di cư sang Thái Lan và Tây Bắc Việt Nam.
2.4. DÂN TỘC Ơ ĐU
Tên gọi khác: Tên tự gọi: Ơ Ðu hoặc I Ðu (người yêu thương). Tên gọi khác: Tày Hạt (người đói rách)
Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á). Hầu hết người Ơ Ðu dùng các tiếng Khơ Mú, Thái làm công cụ giao tiếp hàng ngày.
Cư trú: Người Ơ Đu tập trung tại huyện Tương Dương, Nghệ An.
Lịch sử: Từ nhiều tài liệu cho thấy, Ơ Đu là tộc người sinh sống từ rất lâu đời tại vùng đất hai huyện Tương Dương và Kỳ Sơn tỉnh Nghệ An hiện nay.
2.5DÂN TỘC THỔ
Tên gọi khác: Người Nhà Làng, Kẹo, Mọn, Cuối, Họ, Đan Lai, Ly Hà, Tày Pọng, Con Kha, Xá Lá Vàng...
Ngôn ngữ: Tiếng Việt, tiếng Thổ, thuộc nhóm ngôn ngữ Việt-Mường trong ngữ hệ Nam Á.
Cư trú: Thổ là tộc người cư trú ở vùng trung du và miền núi của 2 tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa. Ðịa bàn cư trú hiện nay của người Thổ vốn là giao điểm của các luồng di cư từ bắc vào nam, từ miền xuôi lên miền ngược, những người tha hương cùng chung cảnh ngộ ấy hòa nhập thành một cộng đồng chung dân tộc Thổ.
Lịch sử: Cách đây trên dưới 4.000 năm, có một bộ phận người Việt cổ sống ở vùng trung du và miền núi tỉnh Nghệ An, một phần ở tỉnh Thanh Hóa. Về sau, một nhóm chuyển xuống vùng đồng bằng, dần dần trở thành người Việt; bộ phận khác vẫn ở lại địa bàn cư trú cũ, chính là tổ tiên của người Thổ ngày nay.
2.6DÂN TỘC H'MÔNG
Tên gọi khác: Dựa trên màu sắc đặc điểm trang phục và ngữ âm, người Hmông ở Việt Nam được chia thành 4 nhóm địa phương: Hmông Trắng, Hmông Đen, Hmông Xanh và Hmông Hoa.
Ngôn ngữ: Thuộc hệ Hmông-Dao.
Full file
Thầy cô tải nhé!
CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG 9
Chủ đề 1: Phương ngữ Nghệ An
Mục tiêu cần đạt
Chủ đề 1: Phương ngữ Nghệ An
Mục tiêu cần đạt
- Kể được tên các ngôn ngữ ở Nghệ An
- Giới thiệu được một ngôn ngữ dân tộc mà em biết hay nói được
- Chia sẻ được hiểu biết, cảm nhận của bản thân về vai trò của ngôn ngữ đối với đời sống văn hoá của các dân tộc
- Đề xuất được phương án bảo tồn, phát triển các ngôn ngữ ở Nghệ An.
A. MỞ ĐẦU
Nghệ An ở vị trí trung tâm vùng Bắc Trung Bộ, là địa phương có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời. Tỉnh Nghệ An có diện tích rộng hơn 16.490 km2 với 21 đơn vị hành chính cấp huyện. Dân số Nghệ An năm 2020 là hơn 3,36 triệu người. Nghệ An có 6 dân tộc chính, trong đó, có 5 dân tộc thiểu số gồm Thái, Thổ, Mông, Khơ Mú và Ơ Đu sinh sống ở 11 huyện, thị miền núi với số lượng khoảng 491.000 người, chiếm gần 15% dân số toàn tỉnh. Mỗi dân tộc có một tiếng nói riêng tạo nên ngôn ngữ riêng biệt của vùng miền và làm nên bản sắc văn hóa của vùng đất Nghệ An.
1. Em hãy kể tên một số ngôn ngữ ở xứ Nghệ mà em biết?
2. Nhờ đâu em biết đến những ngôn ngữ đó?
B. HÌNH THÀNH KIẾN THỨC
I. Khái quát phương ngữ và phương ngữ ở Nghệ An
Đọc thông tin dưới đây và thực hiện các yêu cầu
1. Phương ngữ là gì?
Giải thích một cách đơn giản, theo nghĩa từng từ thì “Phương” là địa phương, “Ngữ” là lời nói. Vậy “Phương ngữ” là lời nói của địa phương. Nhưng vẫn còn một cách hiểu khác, theo định nghĩa khái quát: phương ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở mỗi địa phương cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay với phương ngữ khác”
Nguyên nhân hình thành phương ngữ
Khác với tưởng tượng của nhiều người, ngôn ngữ là thứ luôn luôn chuyển động, nhưng không phải ở mọi nơi của ngôn ngữ đó đều có điều kiện thay đổi và tiến hóa như nhau. Chính vì thế, xuất hiện sự khác biệt ngôn ngữ giữa các vùng là điều tất yếu. Đó cũng chính là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của phương ngữ; bên cạnh đó còn có những nguyên nhân về mặt địa lí. Bởi lẽ, do sự tách biệt giữa các bộ lạc đã tạo ra sự khác biệt ngôn ngữ; ở giai đoạn bộ tộc, do có sự tiếp xúc thường xuyên giữa các thành viên, cho nên dù có xảy ra biến đổi trong ngôn ngữ thì nó cũng sẽ nhanh chóng được phổ biến cho cả bộ tộc nhưng với giai đoạn bộ lạc thì khác, do sự xa cách về địa lí ở các bộ lạc nên những thay đổi ngôn ngữ chỉ được phổ biến trong các vùng ở bộ lạc này mà khó để đến với các bộ lạc khác, kết quả là sự ra đời của những sự khác nhau trong mã, làm nảy sinh các phương ngữ khác nhau.
2. Phương ngữ Nghệ An
“Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ”
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ”
Xứ Nghệ An vốn được biết đến với vẻ đẹp non nước hữu tình và chất giọng địa phương độc đáo, riêng biệt.
Theo cách hiểu thứ nhất, phương ngữ là lời nói địa phương thì Nghệ An có một số phương ngữ thú vị như: bể - biển, chi - gì, chộ -thấy, cơn - cây, đọi - bát, mô - đâu, ngái - xa, nhởi - chơi, nom - nhìn, nỏ - không, rày - nay, răng - sao, rú - núi, rứa - thế ấy, trốc - đầu, trự - đồng tiền, ...Ngoài ra, cách xưng hô của người Nghệ An cũng vô cùng khác biệt như: tau - tôi, mi - mày, bọn nớ - bọn họ, bọn kia, bọn choa - bọn tao, chúng tôi, ả - chị, eng/enh - anh, hấn - hắn, bọ - bố (cũng có nơi gọi cha, thầy thay cho bọ), mệ - mẹ (tùy vùng).
Trên thực tế, tiếng Nghệ An thường không phát âm được thanh ngã và thường nhập thanh ngã với thanh nặng. Nhưng cũng vì điều đó, âm thanh xứ Nghệ mang một nét ấn tượng khó phai đối với tất cả người dân xứ ngoại có dịp lắng nghe giọng của dân xứ này.
Đây chính là điểm độc đáo của phương ngữ Nghệ An chính các từ cùng một nghĩa lại có cách nói có phần đặc biệt, khó có thể tưởng tượng được khiến cho người xứ khác thấy thích thú vì âm điệu hơn là mặt ngữ nghĩa. Và ngữ điệu của là một phần đáng tự hào khi chỉ cần họ cất giọng nói chuyện, ta nhận ra ngay một người con đến từ quê hương xứ Nghệ.
Theo cách hiểu phương ngữ là thuật ngữ ngôn ngữ học, Nghệ An là địa bàn sinh sống của rất nhiều cộng đồng các dân tộc anh em từ Kinh, Thái, Thổ đến Mường, Dao, H’mông, Khơ mú... vì vậy ở Nghệ An tồn tại nhiều ngôn ngữ của các dân tộc. Trong đó đặc trưng là các ngôn ngữ của dân tộc Kinh, dân tộc Thái, dân tộc Thổ, dân tộc H’mông, dân tộc Ơ Đu, dân tộc Khơ mú.
Câu hỏi:
1. Phương ngữ là gì? Chỉ ra các nguyên nhân hình thành phương ngữ?
2. Đặc điểm phương ngữ Nghệ An?
3. Em hãy kể tên một số dân tộc thiểu số trên địa bàn Nghệ An. Trong số những đồng bào dân tộc đó, dân tộc nào có tiếng nói và chữ viết riêng?
4.
II. Các phương ngữ ở Nghệ An
2.1 DÂN TỘC KINH
Tên gọi khác: Người Việt
Ngôn ngữ: Tiếng Việt: nằm trong nhóm ngôn ngữ Việt-Mường, ngữ hệ Nam Á.
Cư trú: Người Kinh là tộc người duy nhất trong 54 tộc người của quốc gia Việt Nam cư trú thành các cộng đồng ở tất cả các tỉnh, trên tất cả các dạng địa hình, địa bàn trong cả nước (đồng bằng, trung du, miền núi, cao nguyên, ven biển và hải đảo), song tập trung đông đúc ở đồng bằng.
Lịch sử: Người Kinh (cũng như người Mường, Thổ, Chứt) là tộc người bản địa, sở tại, sinh sống từ rất lâu đời trên dải đất Việt Nam, không phải có nguồn gốc từ lãnh thổ bên ngoài. Từ cái nôi ban đầu là vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, tập trung ở đồng bằng, người Kinh chuyển cư đến các vùng khác, trở thành tộc người đông đảo, có mặt trên mọi địa bàn, địa hình của Tổ quốc.
2.2 DÂN TỘC THÁI
Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.
Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái – Kađai).
Cư trú: Người Thái cư trú ở một số tỉnh chủ yếu sau đây tại Việt Nam: Hòa Bình, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Thanh Hóa, Nghệ An. Quá trình di cư từ đầu những năm 1990 đã mở rộng địa bàn cư trú của tộc người này ra một số vùng khác, trong đó có các tỉnh ở khu vực Tây Nguyên.
Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm. Người Thái ở Việt Nam được nhìn nhận là một cộng đồng tộc người với nhiều nhóm địa phương. Nguồn gốc cũng như sự có mặt của họ ở Việt Nam không hoàn toàn giống nhau. Theo các nhà dân tộc học, người Thái ở Việt Nam có hai nhóm chính: Thái Trắng và Thái Đen.
2.3. DÂN TỘC KHƠ MÚ
Tên gọi khác: Xá Cẩu, Khạ Klẩu, Mãng Cẩu, Tày Hạy, Mứn Xen, Pu Thềnh, Tềnh.
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á). Nhiều người biết đọc, viết chữ Thái.
Cư trú: Ở các tỉnh dọc biên giới Việt - Lào như Nghệ An, Thanh Hóa, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên.
Lịch sử: Về nguồn gốc tộc người Khơ Mú ở Việt Nam hiện vẫn còn tồn tại một số quan điểm khác nhau. Cho đến nay, phần lớn các nhà khoa học đều khẳng định người Khơ-mú là cư dân tại chỗ ở bán đảo Đông Dương, cư trú tập trung ở Bắc Lào với điểm quy tụ đông nhất là Luang Prabang và đã hình thành vương quốc có tên là Swa hay Lawa. Sau khi người Lào di cư xuống cùng với các cuộc viễn chinh và người từ Vân Nam (Trung Quốc) tràn xuống đã buộc người Khơ Mú phải di cư sang Thái Lan và Tây Bắc Việt Nam.
2.4. DÂN TỘC Ơ ĐU
Tên gọi khác: Tên tự gọi: Ơ Ðu hoặc I Ðu (người yêu thương). Tên gọi khác: Tày Hạt (người đói rách)
Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á). Hầu hết người Ơ Ðu dùng các tiếng Khơ Mú, Thái làm công cụ giao tiếp hàng ngày.
Cư trú: Người Ơ Đu tập trung tại huyện Tương Dương, Nghệ An.
Lịch sử: Từ nhiều tài liệu cho thấy, Ơ Đu là tộc người sinh sống từ rất lâu đời tại vùng đất hai huyện Tương Dương và Kỳ Sơn tỉnh Nghệ An hiện nay.
2.5DÂN TỘC THỔ
Tên gọi khác: Người Nhà Làng, Kẹo, Mọn, Cuối, Họ, Đan Lai, Ly Hà, Tày Pọng, Con Kha, Xá Lá Vàng...
Ngôn ngữ: Tiếng Việt, tiếng Thổ, thuộc nhóm ngôn ngữ Việt-Mường trong ngữ hệ Nam Á.
Cư trú: Thổ là tộc người cư trú ở vùng trung du và miền núi của 2 tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa. Ðịa bàn cư trú hiện nay của người Thổ vốn là giao điểm của các luồng di cư từ bắc vào nam, từ miền xuôi lên miền ngược, những người tha hương cùng chung cảnh ngộ ấy hòa nhập thành một cộng đồng chung dân tộc Thổ.
Lịch sử: Cách đây trên dưới 4.000 năm, có một bộ phận người Việt cổ sống ở vùng trung du và miền núi tỉnh Nghệ An, một phần ở tỉnh Thanh Hóa. Về sau, một nhóm chuyển xuống vùng đồng bằng, dần dần trở thành người Việt; bộ phận khác vẫn ở lại địa bàn cư trú cũ, chính là tổ tiên của người Thổ ngày nay.
2.6DÂN TỘC H'MÔNG
Tên gọi khác: Dựa trên màu sắc đặc điểm trang phục và ngữ âm, người Hmông ở Việt Nam được chia thành 4 nhóm địa phương: Hmông Trắng, Hmông Đen, Hmông Xanh và Hmông Hoa.
Ngôn ngữ: Thuộc hệ Hmông-Dao.
Full file
Thầy cô tải nhé!
TỆP ĐÍNH KÈM
Tệp đính kèm đã được mở. Bạn có thể tải tài nguyên dưới đây.
CÁC TỆP ĐÍNH KÈM (11)
- yopo.vn---CHỦ ĐỀ 1 PHƯƠNG NGỮ NGHỆ AN (VĂN).docxDung lượng tệp: 38.8 KB
- yopo.vn---CHỦ ĐỀ 2 SÂN KHẤU TRUYỀN THỐNG Ở NGHỆ AN.docxDung lượng tệp: 735.8 KB
- yopo.vn---CHỦ ĐỀ 3 HẬU PHƯƠNG NGHỆ AN TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP VÀ ĐẾ QUỐC MỸ.docxDung lượng tệp: 1.7 MB
- yopo.vn---CHỦ ĐỀ 4 NGHỆ AN THỜI KỲ ĐỔI MỚI (1986-2020).docxDung lượng tệp: 25.5 KB
- yopo.vn---CHỦ ĐỀ 5 KINH TẾ NGHỆ AN (ĐỊA LÝ).docxDung lượng tệp: 50.4 KB
- yopo.vn---CHỦ ĐỀ 6 LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG Ở NHỆ AN.docxDung lượng tệp: 2.9 MB
- yopo.vn---CHỦ ĐỀ 7 - HOẠT ĐỘNG HỘI CHỮ THẬP ĐỎ.docDung lượng tệp: 3.3 MB
- yopo.vn---CHỦ ĐỀ 8 TÁC ĐỘNG CỦA CÁC HOẠT ĐỘNG KINH TẾ ĐẾN MÔI TRƯỜNG.docDung lượng tệp: 21.5 MB
- yopo.vn---CT TLĐP Nghệ An lớp 9_16.8.2024.docxDung lượng tệp: 25.2 KB
BẠN MUỐN MUA TÀI NGUYÊN NÀY?
Các tệp đính kèm trong chủ đề này cần được thanh toán để tải. Chi phí tải các tệp đính kèm này là 0 VND. Dành cho khách không muốn tham gia gói THÀNH VIÊN VIP
GIÁ TỐT HƠN
Gói thành viên VIP
- Tải được file ở nhiều bài
- Truy cập được nhiều nội dung độc quyền
- Không quảng cáo, không bị làm phiền
- Tải tài nguyên đề thi, giáo án... từ khối 1-12
- Tải mở rộng sáng kiến, chuyên đề, báo cáo...
- Được tư vấn, hỗ trợ qua zalo 0979.702.422
🔥 Chỉ từ
200K
Mua gói lẻ
- Chỉ tải duy nhất toàn bộ file trong bài đã mua
- Cần mua file ở bài khác nếu có nhu cầu tải
- Tốn kém cho những lần mua tiếp theo
- Được tư vấn, hỗ trợ qua zalo 0979.702.422
0 VND
Sau khi thanh toán thành công, hệ thống sẽ tự động chuyển hướng bạn về trang download tài liệu
HƯỚNG DẪN ĐĂNG KÝ THÀNH VIÊN THƯỜNG